Bài tuyên truyền về Nghị quyết số 14/2026/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Hưng Yên về một số chính sách thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Hưng Yên
Nông nghiệp luôn giữ vai trò là trụ đỡ của nền kinh tế, là sinh kế của phần lớn người dân khu vực nông thôn. Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, việc ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp để hỗ trợ người dân phát triển sản xuất là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ yêu cầu đó, ngày 9 tháng 7 năm 2026, HĐND Tỉnh Hưng Yên đã ban hành Nghị quyết số 14/2026/NQ-HĐND quy địn về một số chính sách thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Hưng Yên. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 7 năm 2026, tạo hành lang pháp lý quan trọng để khuyến khích người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư phá triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Điểm nổi bật của Nghị quyết lần này là các chính sách được xây dựng theo hướng lấy người sản xuất làm trung tâm, hỗ trợ đúng nhu cầu thực tế, từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Đối tượng được hưởng chính sách rất rộng, bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình và cá nhân đang sản xuất, kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Đồng thời, Nghị quyết quy định rõ việc hỗ trợ phải bảo đảm công khai, minh bạch, không trùng lặp với các chương trình khác; trường hợp cùng một nội dung có nhiều chính sách hỗ trợ thì người dân được lựa chọn mức hỗ trợ cao nhất theo quy định của pháp luật.
Một trong những chính sách được đông đảo người dân quan tâm là hỗ trợ tích tụ, tập trung đất nông nghiệp để phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn.
Thực tế hiện nay, sản xuất nông nghiệp còn manh mún, nhỏ lẻ nên việc đưa cơ giới hóa và khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng còn gặp nhiều khó khăn. Để khắc phục tình trạng này, tỉnh khuyến khích các tổ chức, cá nhân tích tụ ruộng đất, hình thành các vùng sản xuất tập trung gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị.
Theo Nghị quyết, người trực tiếp tổ chức sản xuất trên diện tích tích tụ đủ điều kiện sẽ được hỗ trợ 3 triệu đồng trên mỗi héc-ta mỗi năm trong ba năm đầu. Đối với các hộ dân cho thuê hoặc cho mượn đất để thực hiện tích tụ cũng được hỗ trợ 6 triệu đồng trên mỗi héc-ta mỗi năm, thời gian hỗ trợ tối đa là 5 năm theo thời hạn thỏa thuận giữa các bên. Đặc biệt, Ủy ban nhân dân cấp xã và các thôn có diện tích tích tụ đạt điều kiện còn được hỗ trợ kinh phí để tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện chủ trương này. Chính sách không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng đất mà còn tạo điều kiện để hình thành các cánh đồng lớn, giảm chi phí sản xuất và tăng thu nhập cho người dân.
Đối với lĩnh vực trồng trọt, Nghị quyết tiếp tục có nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực.
Để khuyến khích mở rộng sản xuất cây vụ Đông, tỉnh hỗ trợ 50% kinh phí mua giống, mức hỗ trợ tối đa 12 triệu đồng trên một héc-ta đối với các vùng sản xuất tập trung đủ điều kiện. Đây là chính sách rất có ý nghĩa nhằm nâng cao giá trị sử dụng đất sau thu hoạch lúa, tăng thêm thu nhập cho người nông dân.
Bên cạnh đó, nhằm bảo vệ sản xuất vụ Xuân, hạn chế thiệt hại do chuột gây ra, tỉnh hỗ trợ 100% kinh phí mua thuốc trừ chuột trong các chiến dịch diệt chuột tập trung theo kế hoạch hằng năm. Chính sách này sẽ góp phần giảm chi phí cho người sản xuất và nâng cao hiệu quả bảo vệ mùa màng.
Để giảm sức lao động, nâng cao năng suất và từng bước hiện đại hóa sản xuất, Nghị quyết còn hỗ trợ mạnh mẽ việc đầu tư cơ giới hóa trong nông nghiệp.
Các hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình và cá nhân đầu tư mua máy cấy, máy kéo nông nghiệp hoặc hệ thống thiết bị sấy sẽ được hỗ trợ 50% giá trị máy móc theo hóa đơn giá trị gia tăng, nhưng không quá 150 triệu đồng cho mỗi máy hoặc thiết bị. Đối với các cơ sở sản xuất mạ khay, tỉnh còn hỗ trợ đào tạo kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ đầu tư với tổng kinh phí tối đa 200 triệu đồng cho mỗi cơ sở. Đây là điều kiện quan trọng để từng bước thay thế lao động thủ công bằng máy móc hiện đại, góp phần nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản xuất.
Trong lĩnh vực chăn nuôi, Nghị quyết thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến công tác phòng, chống dịch bệnh.
Theo đó, ngân sách tỉnh hỗ trợ 100% kinh phí mua vắc xin phòng các bệnh nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm; hỗ trợ mua hóa chất khử trùng, tiêu độc; hỗ trợ kinh phí giám sát dịch bệnh và xử lý ổ dịch khi phát sinh. Ngân sách cấp xã được hỗ trợ mua vật tư phục vụ tiêm phòng như tủ bảo quản vắc xin, bơm kim tiêm, trang phục bảo hộ và hỗ trợ kinh phí cho lực lượng trực tiếp tham gia công tác phòng, chống dịch.
Đây là những chính sách hết sức thiết thực, giúp bảo vệ đàn vật nuôi, giảm thiểu thiệt hại cho người chăn nuôi và góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm an toàn cho thị trường.
Một điểm mới đáng chú ý của Nghị quyết là khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong nông nghiệp.
Các cơ sở chăn nuôi đầu tư hệ thống cho ăn tự động, hệ thống cấp nước thông minh, camera giám sát, cảm biến trí tuệ nhân tạo, điện mặt trời, robot phục vụ chăn nuôi hoặc các công nghệ hiện đại khác sẽ được hỗ trợ tối đa 50% chi phí đầu tư, với mức hỗ trợ lên tới 2 tỷ đồng cho mỗi cơ sở. Đồng thời, tỉnh cũng hỗ trợ đầu tư các công trình xử lý chất thải, công trình khí sinh học, góp phần xây dựng nền nông nghiệp xanh, thân thiện với môi trường.
Không chỉ quan tâm đến sản xuất, Nghị quyết còn dành nhiều chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã và liên kết tiêu thụ nông sản.
Các hợp tác xã được hỗ trợ đào tạo, tập huấn, xây dựng tiêu chuẩn chất lượng, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm, tham gia hội chợ, xúc tiến thương mại và nhân rộng các mô hình hoạt động hiệu quả. Đặc biệt, hợp tác xã còn được hỗ trợ thu hút lao động có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học về làm việc, góp phần nâng cao chất lượng quản trị và phát triển bền vững.
Đối với Chương trình Mỗi xã một sản phẩm - OCOP, tỉnh tiếp tục dành nhiều nguồn lực để hỗ trợ các chủ thể OCOP từ khâu đào tạo, tuyên truyền, đầu tư máy móc thiết bị, quảng bá sản phẩm, chuyển đổi số, xây dựng hồ sơ phân hạng, truy xuất nguồn gốc đến đăng ký nhãn hiệu, sở hữu trí tuệ. Đây là điều kiện thuận lợi để các sản phẩm đặc trưng của địa phương nâng cao chất lượng, khẳng định thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Ngoài ra, Nghị quyết cũng khuyến khích các tổ chức, cá nhân áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt VietGAP. Các cơ sở sản xuất sẽ được hỗ trợ khảo sát, phân tích mẫu đất, mẫu nước, đào tạo, tập huấn kỹ thuật, cấp giấy chứng nhận và duy trì chứng nhận hằng năm. Việc áp dụng các tiêu chuẩn này sẽ góp phần nâng cao chất lượng nông sản, bảo đảm an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Nghị quyết số 14/2026/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Hưng Yên là một chính sách lớn, có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp và đời sống của người dân nông thôn. Việc triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ sẽ góp phần thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; đẩy mạnh cơ giới hóa, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số; nâng cao chất lượng nông sản; xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ; phát triển kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại và bền vững.
Ủy ban nhân dân xã Bắc Đông Hưng đề nghị các hộ nông dân, các hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chủ động nghiên cứu nội dung Nghị quyết; tích cực liên hệ với cán bộ chuyên môn của xã và các cơ quan chức năng để được hướng dẫn thực hiện các chính sách hỗ trợ theo đúng quy định.
Mỗi người dân hãy mạnh dạn đổi mới tư duy sản xuất, tích cực ứng dụng khoa học kỹ thuật, mở rộng liên kết sản xuất, xây dựng nông sản an toàn, nâng cao giá trị sản phẩm, góp phần cùng Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Hưng Yên xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện, hiện đại, hiệu quả và bền vững.
